Liên Hệ Quảng Cáo

0988 3030 68

10 tháng 8 2011

Bệnh nha chu: Viêm nha chu chớ coi thường

Biểu hiện thường thấy là nướu viêm đỏ, dễ chảy máu, chảy mủ, tiêu xương ổ răng, răng lung lay, và cuối cùng là mất răng. Có thể nói phần lớn các trường hợp mất răng ở người trưởng thành là do bệnh nha chu gây nên.

Nguyên nhân gây bệnh nha nhu chính là các vi khuẩn hiện diện trong mảng bám răng. Ngoài ra, bệnh nha chu còn có thể xuất hiện khi chế độ dinh dưỡng không đảm bảo, khi tâm lý căng thẳng làm giảm sức đề kháng của cơ thể, hút thuốc lá, bị bệnh tiểu đường hay các bệnh tác hại đến hệ thống miễn dịch như bệnh bạch cầu.

Bệnh nha chu - Viêm quanh răng

Bệnh nha chu thường diễn biến qua 2 giai đoạn: viêm nướu và viêm nha chu . Ở giai đoạn nướu bị viêm, nếu được điều trị kịp thời, bệnh sẽ khỏi hẳn. Nếu không điều trị tình trạng viêm nướu kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng phá hủy mô và gây viêm nha chu. Lúc đó, dù điều trị thế nào, cũng không thể hồi phục như cũ vì bệnh đã phá hủy các mô nâng đỡ răng sâu bên dưới nướu như xương, dây chằng nha chu và xê-măng. Có những trường hợp phản ứng viêm bị che lấp nên khó nhận biết, trong khi xung quanh chân răng đã hình thành các sang thương bệnh lý như mất bám dính, xương ổ bị phá hủy tạo thành một tổn thương thực thể gọi là túi nha chu. Trong các túi này, tình trạng nhiễm trùng tiếp tục phát triển. Dần dần, bệnh càng tiến triển khiến hiện tượng tiêu xương ngày một trầm trọng, răng lung lay, đôi khi không thể giữ được và phải nhổ đi.

Những dấu hiệu cần lưu ý:
- Chảy máu nướu khi chải răng; Nướu đỏ, sưng, tách ra khỏi răng; Hơi thở hôi dai dẳng; Có ổ mủ hoặc có mủ chảy ra ở giữa răng và nướu ở vùng cổ răng; Răng lung lay hoặc thưa ra, đặc biệt khi nhai. Khi gặp những dấu hiệu trên nên đến gặp nha sĩ. Tuy nhiên, thông thường bệnh nha chu xảy ra không rõ ràng, bởi phần lớn thời gian diễn tiến bệnh không kèm theo triệu chứng đau đặc hiệu, vì vậy việc khám răng miệng định kỳ, trong đó khám toàn diện mô nha chu, là rất cần thiết.
Nếu bạn bị viêm nha chu, thông thường có 4 loại điều trị căn bản thường được áp dụng: khẩn cấp, không phẫu thuật, phẫu thuật và duy trì. Điều trị không phẫu thuật có tỷ lệ áp dụng cao nhất, là bước điều trị đầu tiên trong bệnh nha chu, gồm 2 bước. Ở bước sơ khởi, nha sĩ sẽ đánh giá các yếu tố thuận lợi cho sự lưu giữ mảng bám, cản trở vệ sinh răng miệng và kiểm soát mảng bám vi khuẩn và loại bỏ các yếu tố đó bằng cách:

- Chỉnh sửa hoặc thay thế tất cả những miếng trám không đúng kỹ thuật.
- Chỉnh sửa hoặc thay thế những phục hình không đúng kỹ thuật.
- Đánh giá và chỉ định răng cần nhổ (không thể giữ được).
- Cố định răng (nếu răng lung lay).
- Thực hiện phục hình tạm thời (nếu cần thiết).
- Cạo cao răng - xử lý mặt gốc răng. Lấy cao răng là một thủ thuật không nhất thiết do bác sĩ thực hiện, được chỉ định cho tất cả mọi kế hoạch điều trị nha chu. Với những trường hợp viêm nướu, nó sẽ cho kết quả rất khả quan.

Khi tự điều trị bằng kháng sinh và thấy hết đau chưa hẳn đã khỏi bệnh. Bệnh vẫn tồn tại và trở thành mạn tính, thỉnh thoảng sẽ bộc phát cơn cấp tính (tái diễn theo chu kỳ và ngày càng trầm trọng). Nếu bạn chỉ mới bị viêm nướu, tình trạng đó sẽ khiến bạn chuyển nhanh sang giai đoạn bệnh viêm nha chu. Nếu đã bị viêm nha chu thì bệnh sẽ ngày càng trầm trọng, làm răng lung lay nhiều hơn, cuối cùng là mất răng.

Để phòng bệnh nha chu: điều quan trọng nhất là đánh răng đều đặn sau các bữa ăn và trước khi đi ngủ để loại bỏ mảng bám vi khuẩn trên bề mặt răng và khe nướu, đảm bảo được sức khỏe răng miệng. Sáu tháng 1 lần, nên đến nha sĩ khám răng định kỳ và lấy sạch vôi răng, mảng bám ở những nơi bàn chải không làm sạch được.

(Sưu tầm)

Kiến thức nha khoa: Nguyên tắc ăn uống phòng bệnh sâu răng


    Sâu răng là sự tiêu huỷ chất vôi của men răng và ngà răng do vi khuẩn gây ra. Bệnh gây tổn thương thành lỗ sâu, làm gãy răng, sứt mẻ răng, nhiễm khuẩn phần mềm quanh răng…
Sâu răng là sự tiêu huỷ chất vôi của men răng và ngà răng do vi khuẩn gây ra. Bệnh gây tổn thương thành lỗ sâu, làm gãy răng, sứt mẻ răng, nhiễm khuẩn phần mềm quanh răng…

Vì sao bị sâu răng? 
 Nhiều nghiên cứu cho thấy có 3 yếu tố gây bệnh sâu răng là: vi khuẩn, chất đường và thời gian mà vi khuẩn và chất đường bám dính ở răng. Vi khuẩn gây sâu răng trú ẩn ở lớp mảng bám răng. Đường có trong thức ăn uống. Thời gian vi khuẩn tồn tại trong miệng từ 20 phút - 1 giờ sau khi ăn. Vi khuẩn sử dụng đường để tạo thành các mảng bám răng, chúng làm lên men đường tạo ra acid, ăn mòn các chất vô cơ ở men răng và ngà răng gây ra sâu răng.

 Răng còn bị ăn mòn bởi môi trường acid trong miệng, quá trình này không có mặt của vi khuẩn. Đây là quá trình mất mô cứng của răng (men răng, ngà răng) tiến triển không thể đảo ngược. Mô cứng của răng bị ăn mòn hoá học từ bề mặt răng do các acid tồn tại trong miệng. Các acid trong thức ăn gồm acid citric, phospholic, ascorbic, malic, tartaric, carbonic, có nhiều trong các loại hoa quả chín và nước ép hoa quả, giấm và nước uống có ga. Nhiều nghiên cứu cho thấy: Người thường xuyên uống nước ép hoa quả, nước uống có ga, ăn dưa chua, cà muối chua, các loại trái cây chua như khế, cam quýt, tầm duột, me, sấu… bị ăn mòn răng ngày càng nặng.

Thức ăn nào có thể gây sâu răng?
 Đường ăn thông thường (saccarose) là loại gây sâu răng nhiều nhất, tiếp đến là đường glucose, fructose, maltose. Các loại đường này có trong đường ăn, bánh kẹo, mật ong, mật mía, trái cây chín, mía, thốt nốt, nước ngọt... Chất đường trong thức ăn uống dính lâu trong miệng, tạo điều kiện cho vi khuẩn làm lên men. Đối với chất tinh bột có trong lương thực như gạo, ngô, khoai, sắn, đậu: nhiều nghiên cứu cho thấy chúng ít gây sâu răng. Do đó, những người ăn nhiều tinh bột, ăn ít các loại đường có mức sâu răng thấp. Trái lại những người ăn ít tinh bột, nhưng ăn nhiều đường bị sâu răng nhiều hơn. Tinh bột thô ít gây sâu răng, hỗn hợp tinh bột và saccarose gây sâu răng nhiều hơn. Các loại thuốc dùng cho trẻ em như kháng sinh, vitamin, xirô ho... chứa một lượng lớn đường, vì vậy chúng có thể gây tăng tốc độ sâu răng. Trẻ em còn bị sâu răng do bú bình: thói quen của một số gia đình cho con bú lúc đi ngủ, vào giường với bình sữa cho đến khi trẻ ngủ; nhiều bà mẹ quá chiều con hoặc cho trẻ ngậm bình trong khi ngủ để giải quyết tình trạng trẻ quấy khóc ban đêm. 

Kiến thức nha khoa - Nguyên tắc ăn uống phòng bệnh sâu răng
 Bánh ngọt, đồ uống có ga là loại thức ăn gây nguy cơ sâu răng cao.
Nên ăn uống thế nào để phòng bệnh sâu răng? 

Để phòng ngừa sâu răng, chúng ta nên ăn uống theo những khuyến cáo sau đây: chỉ ăn đường dưới 500g/người/tháng sẽ giảm đáng kể nguy cơ sâu răng. Chất ngọt thay thế đường loại ngọt đậm và xylitol không gây sâu răng. Các loại ít ngọt tuy bị vi khuẩn trong miệng chuyển hoá nhưng với tốc độ rất chậm nên có thể xem là an toàn. Tương lai, thuốc dùng cho trẻ em cũng dùng các chất ngọt thay thế đường sẽ giảm tỷ lệ sâu răng cho trẻ.

Thức ăn giàu canxi, vitamin D có trong sữa, rau quả xanh, cá, phomat... giúp chống mòn răng, rụng răng và loãng xương ở người cao tuổi. Phomat rất giàu chất canxi, khi ăn phomat chất canxi bám vào bề mặt răng có tác dụng phục hồi bề mặt răng chống lại sự tấn công của acid rất hiệu quả. Vấn đề là cần tuyên truyền cho nhân dân ta có thói quen ăn phomat. Các loại rau quả không gây hại cho răng gồm: rau xanh các loại, dưa chuột, súp lơ, bí xanh, bí đỏ, cà tím, củ cải, cà rốt, mướp, dưa gang… giúp làm sạch răng và loại bỏ mảng bám. Nên ăn 200g/bữa và ăn đều đặn hàng ngày. Tuy nhiên có những rau quả gây hại cho răng như: chuối, chà là, nho, cà chua, đậu hà lan, quả sung, táo ngọt, lựu, cam, quýt, quất, me chua, sấu, tầm duột... do chứa nhiều carbohydrat hoặc acid ăn mòn răng. Vì vậy, chúng ta nên dùng xen kẽ loại rau quả gây sâu răng với loại không gây sâu răng thì vừa đảm bảo đủ chất dinh dưỡng vừa phòng ngừa được sâu răng. Để hạn chế tối đa quá trình ăn mòn răng, cần hạn chế số lượng và số lần uống nước có ga.

Nên ăn uống thế nào để phòng bệnh sâu răng? Nên súc miệng ngay sau khi ăn hay uống đồ ngọt. Chải răng mỗi ngày 2 – 3 lần, tốt nhất là buổi sáng khi thức dậy, sau các bữa và trước khi đi ngủ. Nên dùng kem đánh răng có fluor. Lưu ý không nên đánh răng ngay sau khi ăn và uống nước trái cây, vì khi đó lớp men răng đang mềm hơn do tác dụng của acid hữu cơ trái cây, bàn chải sẽ mài mòn men răng. Đợi khoảng 30 phút sau để nước bọt có thời gian phục hồi và cân bằng chất khoáng của răng rồi hãy chải răng. Không nên cho trẻ uống nước hoa quả bằng bình vì sẽ kéo dài thời gian răng của bé tiếp xúc với đường và các acid từ hoa quả. Không nên cho trẻ ăn nhiều đồ ngọt.

(Sưu tầm)

09 tháng 8 2011

Phục hình răng

Khi răng bị sâu nhiều hay vỡ lớn, không thể dùng phương pháp trám thông thường, hoặc khi mất răng, Phục hình răng là giải pháp giúp khôi phục trạng thái lúc đầu cho răng của bạn.

1. Phục hình răng là gì?
Là phục hồi lại hình dạng răng bị mất chất nhằm trả lại cho răng khả năng thực hiện chức năng ăn nhai và vẻ thẩm mỹ.

2. Các loại hình phục hình răng
a. Phục hình cố định:
Phục hình cố định là các loại phục hình – răng giả (mão – cầu răng sứ, mão – cầu răng kim loại…) được gắn cố định vào hàm, miệng người mang. Bao gồm các loại mão -cầu răng khác nhau như: mão – cầu răng toàn sứ, mão -cầu răng sứ kim loại, mão – cầu kim loại toàn phần (Full), mão – cầu răng nhựa hay mão hỗn hợp giữa kim loại và nhựa…

b. Phục hình tháo lắp:
Phục hình tháo lắp hay hàm giả được dùng để thay thế cho những răng mất xen kẽ hay mất toàn bộ răng và những mô nướu liên quan.
Hàm giả gồm có phần nền bằng nhựa Acrylic hoặc bằng khung hợp kim và phần răng bằng nhựa hoặc sứ. Ngoài ra Hàm giả còn giúp nâng đỡ cơ môi, má, tránh nếp nhăn quanh miệng, giúp nụ cười luôn tươi trẻ, tự nhiên.

Lời khuyên sau khi gắn răng sứ và gắn răng sứ trên Implant:

1. Không ăn nhai trong khoảng 60 phút sau khi gắn răng sứ.
2. Ngay khi gắn răng sứ: bệnh nhân có cảm giác hơi ê buốt ở răng trụ. Vùng nướu của răng trụ hơi đau nhẹ, có cảm giác nướu bị cấn (nướu bị chèn ép). Những cảm giác này sẽ giảm từ từ
3. Trong trường hợp gắn cầu răng : bệnh nhân cón có cảm giác thiếu hổng phía trong và dư phía ngoài ở nơi nhịp cầu (nơi răng bị mất được thay thế).
4. Hai ngày đầu ăn thức ăn mềm. Nhai chậm, nhẹ nhàng. (Đối với răng trên implant, ăn thức ăn mềm trong 6 tuần sau khi gắn răng).
5. Những ngày sau ăn nhai bình thường, tuy nhiên cần tránh những thức ăn quá cứng có thể làm bể răng sứ. 
6. Nếu có cảm giác cộm, vướng khi cắn 2 hàm lại với nhau hay khi trượt hàm dưới sang phải hay trái, vui lòng trở lại phòng khám để điều chỉnh, không nên để nhai thử, vì khi có điểm cộm, vướng rất dễ gây bể răng sứ.
7. Chải răng bình thường không nên tránh chải nơi răng sứ.  
8. Tái khám, cạo vôi răng mỗi 6 tháng để bảo vệ răng sứ và sức khỏe toàn bộ hệ thống răng miệng.

Lời khuyên sau khi gắn răng giả tháo lắp:

1. Hàm giả tháo lắp có vẻ cồng kềnh, vướng víu trong những ngày đầu. Cần một thời gian để hệ thống môi, má, lưỡi quen với hàm giả mới.
2. Cần tập phát âm bằng cách đọc to giọng.
3. Nước bọt tiết nhiều hơn trong vài ngày đầu.
4. Tập ăn với thức ăn mềm, nhai từng phần nhỏ, nhai chậm, nhẹ nhàng. Tránh thức ăn cứng ít nhất trong 8 ngày đầu.
5. Sau mỗi bữa ăn, nên tháo hàm giả ra và chải rửa. Dùng xà phòng để chải hàm giả, không dùng kem đánh răng chải hàm giả vì sẽ làm mòn hàm giả.
6. Nên chải hàm giả trên một chậu nước đầy, vì nếu đánh rơi hàm cũng không bị gãy.
7. Hàm giả mới có thể gây đau, không được tự ý sữa chữa, phải mang hàm ít nhất một ngày trước khi đến phòng mạch để bác sĩ có thể mài sửa đúng.
8. Ban đêm, nên tháo hàm ra, ngâm hàm trong ly nước sạch (ly có nắp đậy).
9. Nên thay hàm giả mới sau 3 – 5 năm, khi hàm giả không còn dính chắc.

Theo: phongkhamnhakhoa.com

 
Từ khóa: Nha Khoa - Nha Khoa Ha Noi | Phong Kham Rang Ha Noi | Nha Khoa Huyen | Kien Thuc Nha Khoa | Benh Rang Mieng